Giới thiệu chung

Ngày cập nhật :14-11-2007

Huyện Thạch Hà nằm ở trung độ phần phía đông tỉnh Hà Tĩnh, trên tọa độ 18,10 08 – 18,29 độ vĩ Bắc và 105,38 -106,2 độ kinh đông; phía bắc giáp các huyện Can Lộc và Lộc Hà; phía nam giáp huyện Cẩm Xuyên; phía tây là huyện Hương Khê và phía đông là biển. Thành phố Hà Tĩnh nằm lọt vào giữa, cắt địa bàn huyện thành hai phần tách rời nhau. Phần phía tây là các xã, duyên sơn và đồng bằng, phần phía đông là các xã duyên hải. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 355,03 km2 và dân số là 129.364 người (Theo số liệu thống kê đến 1/1/2011).


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Cách ngày nay trên 10 vạn năm, phần lớn vùng đất Thạch Hà bây giờ còn là biển. Sau đó “biển lùi”, nước đại dương hạ thấp xuống 120m, rồi “biển tiến”, đưa mức nước lên như hiện nay. Ấy là vào thời đại của Vượn Người, cách ngày nay vài vạn năm. Từ một vùng biển được phù sa núi và cát biển bồi lấp, tạo thành địa hình Thạch Hà nhìn chung không mấy phức tạp.

Phía tây, liền với vùng núi Hương Khê là dải núi đồi thấp, rìa ngoài của rặng Trường Sơn Bắc, kéo dài 24km từ động Sơn Mao (Thạch Ngọc) đến ngọn Báu Đài (Thạch Lưu), Nhật Lệ (Thạch Điền). Vùng bán sơn địa này rộng khoảng 11000 – 12000 ha chiếm 25% diện tích toàn huyện (Theo tài liệu điều tra của Tổng cục Thủy sản)(1). Các núi đều ở độ cao trung bình 200 – 250m, trừ ngọn Nhật Lệ(416m). Phía đông huyện có nhiều núi nhỏ, thấp và dãy Nam Giới với ngọn Quỳnh Sơn (373m) vốn là những hòn đảo trong vũng biển xưa.

Đồng bằng Thạch Hà có diện tích khoảng 29000ha, trong đó có khoảng 13000ha đất thịt và 10000ha đất cát pha. Ven biển có khoảng 6000ha, chiếm 12,5% diện tích, trong đó có khoảng 1000ha là núi đá, còn lại là cát biển (TLĐD). Do cấu tạo bằng phù sa núi và cát biển, đồng điền tương đối bằng phẳng nhưng ít màu mỡ.

Thạch Hà có mạng lưới sông ngòi khá dày, 10km/1km2. Tổng lưu vực hứng nước rộng gần 800km2. Các sông suối, trong đó có ba sông chính (sông Dà – Hà Hoàng, sông Cày, sông Rào Cấy) mỗi năm đổ ra cửa Sót 36 – 40 triệu m3 nước và 7 vạn tấn bùn, cát. Bờ biển dài khoảng 20km với tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế là 3310km2 (TLĐD).

Thạch Hà là một vùng đất cổ, con người đã có mặt ở đây từ thời hậu kỳ Đá Mới, cách ngày nay khoảng 4800 năm.
Thời xa xưa, đất Thạch Hà nằm trong bộ lạc Việt Thường, nước cổ Văn Lang. Thời Bắc thuộc vào giữa thế kỷ thứ VII, nhà Đường cắt phần đất phía nam Hoan Châu, lập châu ki mi (cai quản lỏng lẻo) Phúc Lộc – Đường Lâm gồm phần đất phía nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Thạch Hà nằm trong châu / quận Phúc Lộc – Đường Lâm. Đầu thời tự chủ nhà Tiền Lê lấy phần phía đông châu Phúc Lộc – Đường Lâm xưa, đặt châu Thạch Hà. Tên Thạch Hà có từ đó, và được chép vào sử sách (Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…) sớm nhất vào những năm 1005 và 1009, cách ngày nay trên 1000 năm. Nhà Lý đặt trại Định Phiên và lấy phần đất phía bắc châu Thạch Hà lập huyện Thạch Hà. Đời Trần – Hồ và thời thuộc Minh, vùng này có những thay đổi về tên gọi, nhưng đến năm Quang thuận thứ 10 (1469) vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước, tên huyện Thạch Hà được khôi phục và tồn tại đến ngày nay. Dưới thời Lê – Mạc, huyện Thạch Hà thuộc phủ Hà Hoa, xứ/ trấn Nghệ An.

Năm Tân Mão, Minh Mệnh thứ 42 (1831) nhà Nguyễn cắt phần đất phía nam trấn Nghệ An gồm 2 phủ, 6 huyện lập tỉnh Hà Tĩnh. Thạch Hà vẫn thuộc phủ Hà Hoa (từ 1841 là Hà Thanh). Năm đầu Khải Định (1916) bỏ phủ Hà Thanh, Thạch Hà được nâng lên thành phủ. Sau cách mạng tháng 8-1945, bỏ phủ, lấy lại tên huyện Thạch Hà cho đến nay.
Địa bàn huyện Thạch Hà từ đời Lý cho đến đầu thế kỷ XX ở vào khoảng giữa sông Nghèn – Hà Hoàng và sông Rào Cấy (sông Nài).

Đời Lê Thánh Tông, năm 1469, Thạch Hà có 31 xã. Đời Nguyễn Minh mệnh có 7 tổng, 54 xã, thôn, trang, sở, giáp, đội, vạn. Đời Tự Đức (năm 1853), có 7 tổng, 51 xã, thôn, trang, vạn. Năm 1921 đời Khải Định cắt tổng Đoài gồm 21 xã thôn của Thạch Hà chuyển cho Can Lộc, và nhận của Can Lộc 2 tổng Canh Hoạch và Vĩnh Luật gồm 27 xã, thôn, phường, vạn. Thạch Hà có 8 tổng, 57 xã, thôn, phường, vạn… Đến năm 1942, theo tài liệu của Tòa công sứ Pháp, Thạch Hà có 8 tổng, gồm 85 xã, thôn.

Sau cách mạng Tháng Tám, địa bàn thu hẹp dần. Năm 1945-1946, Thạch Hà chuyển cho Can Lộc 3 thôn thuộc tổng Đông và 3 thôn thuộc tổng Canh Hoạch; số 79 xã, thôn còn lại hợp thành 26 xã. Năm 1950-1951, 26 xã lại hợp thành 17 xã lớn. Năm 1954, 17 xã lớn chia thành 44 xã nhỏ. Từ 1965 đến 1985 lập thêm các xã Thạch Bàn, Ngọc Sơn, Nam Hương, Bắc Sơn và Thị trấn Cày (trên đất xã Thạch Thượng). Đến năm 2001, nhập xã Thạch Thượng và một số xóm của xã Thạch Lưu vào Thị trấn Cày thành Thị trấn Thạch Hà.

Trong hai năm 1989 và 2004, theo quyết định của Chính phủ, Thạch Hà cắt 11 xã chuyển nhập Thị xã Hà Tĩnh (nay là Thành phố Hà Tĩnh) và năm 2007 lại cắt 6 xã chuyển về huyện mới Lộc Hà.
Huyện Thạch Hà hiện nay còn lại 31 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 30 xã và 1 thị trấn huyện lỵ. 
Phía tây Thành phố Hà Tĩnh có 21 đơn vị kể từ bắc xuống nam:

Trích dẫn
1. Xã Thạch Kênh (Diện tích: 992,26 ha, Dân số: 4114 người)
2. Xã Thạch Liên (Diện tích: 842,53 ha, Dân số: 4946 người)
3. Xã Thạch Sơn (Diện tích: 1025,12 ha, Dân số: 5019 người)
4. Xã Thạch Long (Diện tích 571,97 ha, Dân số: 5230 người)
5. Xã Phù Việt (Diện tích: 668,53 ha, Dân số: 3543 người)
6. Xã Việt Xuyên (Diện tích: 610,76 ha, Dân số: 3112 người)
7. Thị trấn Thạch Hà (Diện tích: 844,09 ha, Dân số: 9264 người)
8. Xã Thạch Thanh (Diện tích: 634,23 ha, Dân số: 3284 người)
9. Xã Thạch Tiến (Diện tích: 773,78 ha, Dân số: 2199 người)
10. Xã Thạch Ngọc (Diện tích: 1168,41 ha, Dân số: 3918 người)
11. Xã Thạch Vĩnh (Diện tích: 1212,75 ha, Dân số: 6024 người)
12. Xã Ngọc Sơn (Diện tích: 2077,17 ha, Dân số: 2336 người)
13. Xã Bắc Sơn (Diện tích: 2211,80 ha, Dân số: 2914 người)
14. Xã Thạch Lưu (Diện tích: 672,02 ha, Dân số: 3228 người)
15. Xã Thạch Đài (Diện tích: 1060,51 ha, Dân số: 5120 người)
16. Xã Thạch Tân (Diện tích: 934,79 ha, Dân số: 6151 người)
17. Xã Thạch Xuân (Diện tích: 2578,32 ha, Dân số: 4649 người)
18. Xã Thạch Hương (Diện tích: 622,50 ha, Dân số: 3934 người)
19. Xã Thạch Lâm (Diện tích: 489,41 ha, Dân số: 2803 người)
20. Xã Nam Hương (Diện tích: 2140,69 ha, Dân số: 1826 người)
21. Xã Thạch Điền (Diện tích: 2596,16 ha, Dân số: 4976 người)


Phía đông Thành phố Hà Tĩnh có 10 đơn vị, kể từ Bắc xuống Nam:

Trích dẫn
1. Xã Thạch Bàn (Diện tích: 1350,14 ha, Dân số: 3169 người)
2. Xã Thạch Đỉnh (Diện tích: 875,45 ha, Dân số: 3378 người)
3. Xã Thạch Hải (Diện tích: 1394,96 ha, Dân số: 3128 người)
4. Xã Thạch Khê (Diện tích: 1047,00 ha, Dân số: 3520 người)
5. Xã Thạch Lạc (Diện tích: 1091,93 ha, Dân số: 4902 người)
6. Xã Thạch Trị (Diện tích: 1175,91 ha, Dân số: 4327 người)
7. Xã Thạch Văn (Diện tích: 1116,46 ha, Dân số: 4959 người)
8. Xã Thạch Thắng (Diện tích: 879,75 ha, Dân số: 4366 người)
9. Xã Tượng Sơn (Diện tích: 824,94 ha, Dân số: 4137 người)
10. Xã Thạch Hội (Diện tích: 1059,44 ha, Dân số: 4838 người)


Thạch Hà xưa nay vẫn là một huyện nông nghiệp. Hiện toàn huyện có 13.757,33 hecta đất nông nghiệp; 8.315,39 hecta đất lâm nghiệp; 815,56 hecta đất nuôi trồng thủy sản,; 84,3 ha đất làm muối; 5,11 ha đất nông nghiệp khác.
Từ xưa, Thạch Hà đã nổi tiếng với đặc sản những vùng chuyên canh: mía mật Kẻ Dà (Cổ Kênh), khoai lang Ngọc Điền – Ngọc Lũy, chè Hương Bộc, hồng Đồng Lộ…; với sản phẩm chế biến có giá trị: Rượu Cày, nước mắm Sót, ruốc Đan Trản, muối Hộ Độ…

Thạch Hà còn nổi tiếng với các sản phẩm thủ công – mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống: Đồ đồng Đức Lâm, đồ vàng bạc Nam Trị, đồ tre đan Đan Chế, nón Ba Giang, vải Đồng Môn, thợ mộc Cổ Kinh, thợ ngõa Đình Hòe…
Cho đến đầu thời tự chủ, thế kỷ X, vùng nam Hà Tĩnh ngày nay vẫn còn hoang vắng, rừng rậm đầm lầy, núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt. Nhà Lý bắt đầu khai thác vùng hạ bạn, nhưng mãi đến cuối đời Trần, đầu đời Lê thì làng xóm mới đông đúc. Người từ vùng sông Hồng, sông Mã, bắc sông Cả di cư vào ngày càng nhiều, một bộ phận dừng lại ở đây rồi tiếp tục đi mở nước ở phương Nam.

Nhà hậu Trần, rồi nghĩa quân Lam Sơn lấy đất nam Nghệ An, từ sông Cả trở vào, làm hậu cứ chống quân xâm lược nhà Minh. Sau chiến thắng, vùng này trở thành chỗ dựa vững chắc của nhà Lê, và sau đó là của chế độ Lê – Trịnh. Trong hai cuộc nội chiến Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, đất Thạch Hà nổi tiếng với rất nhiều dòng họ thế tướng, tiêu biểu là họ Ngô Trảo Nha, họ Võ Hà Hoàng, họ Nguyễn Phi Thạch Long… Việc học hành cũng phát triển khá nhanh, Thạch Hà trở thành đất khai khoa của vùng Hà Tĩnh dưới triều Lê; còn là một vùng văn hóa dân gian đặc sắc, là quê gốc của hát Giặm và hát Ả Đào.

Trong công cuộc chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc, Thạch Hà cũng nổi lên nhiều tên tuổi đáng kính phục: Bùi Thố, Nguyễn Cao Đôn, Nguyễn Huy Thuận… (thời Cần vương), Ngô Đức Kế, Đặng Văn Bá (thời Duy tân – Đông du), Nguyễn Thiếp, Lý Tự Trọng (thời Xô-viết Nghệ Tĩnh).
 

Đào Tuấn Vũ- Theo Dư địa chí Thạch Hà